Tổng quan về Việt Nam

MapVietNamInAsian18.jpg

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia nằm ở cực đông của bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á. Với khoảng 90,5 triệu dân (năm 2014), Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 13 thế giới và là quốc gia đông dân thứ 8 tại châu Á. Về mặt địa lý, Việt Nam là một đất nước dài và hẹp, kéo dài 1600 km (1000 dặm) từ bắc xuống nam, với đường bờ biển (không tính các đảo) khoảng 3300 km (2000 dặm), và chỉ rộng 50 km (30 dặm) tại nơi hẹp nhất. Việt Nam có biên giới phía bắc với Trung Quốc, Lào ở phía tây bắc, Campuchia ở phía tây nam và Malaysia về phía đông nam qua vịnh Thái Lan. Về phía biển Đông, đảo Hải Nam (Trung Quốc) cách Việt Nam về hướng đông bắc khoảng 200 km (124 dặm), Philippines cách khoảng 1400 km (870 dặm), cùng với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Việt Nam nằm dưới ách đô hộ của phong kiến Trung Hoa trong khoảng 1000 năm (111 TCN – 938). Vào năm 938, Việt Nam giành được độc lập sau chiến thắng Bạch Đằng lịch sử. Các triều đại phong kiến của Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong thời gian sau đó, mở rộng lãnh thổ cũng như ảnh hưởng chính trị trong khu vực Đông Nam Á đến khi bán đảo Đông Dương bị thực dân Pháp đô hộ vào giữa thế kỷ 19. Sau giai đoạn Nhật chiếm Đông Dương vào đầu những năm 1940, người Việt đứng lên chiến đấu chống lại sự cai trị của thực dân Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ 1 và cuối cùng đã đánh bại người Pháp vào năm 1954. Sau đó, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam Bắc rồi được thống nhất vào năm 1975 dưới tên Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Sau khi đất nước thống nhất, Việt Nam tương đối bị cô lập trên trường quốc tế trong thập kỷ tiếp theo. Vào năm 1986, Chính phủ đưa ra một chuỗi các cải cách, giúp Việt Nam dần hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Vào năm 1995, Việt Nam khôi phục quan hệ ngoại giao một cách toàn diện với Hoa Kỳ và trở thành thành viên đầy đủ của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Hiện nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia trên thế giới 

Kinh tế

Trong 24 năm qua, từ 1990 đến 2014, GDP của Việt Nam tăng trường với tốc độ trung bình ấn tượng 7% mỗi năm. Các yếu tố chính thúc đẩy tăng trưởng đến từ cả trong và ngoài nước - với một bên là thương mại và một bên bao gồm tiêu dùng cá nhân, các doanh nghiệp tư nhân và nhà nước. Quá trình mở cửa của Việt Nam với bên ngoài đã đem lại những ảnh hưởng vô cùng lớn đến nền kinh tế. Từ 1990 đến 2014, tỉ trọng thương mại (xuất khẩu + nhập khẩu) trên GDP tăng gấp hơn 2 lần từ 81% lên đến 170%, giúp Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế mở nhất trên thế giới. Khác với nhiều nền kinh tế mới nổi khác, cán cân thương mại của Việt Nam tương đối cân bằng. Trong những năm 90, xuất khẩu chủ yếu bao gồm các mặt hàng nông sản như gạo (nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới), cà phê (nhà xuất khẩu thứ 2 thế giới) và hải sản. Từ năm 2000, bên cạnh sự tăng trưởng của các lĩnh vực trên, lĩnh vực sản xuất công nghiệp cũng tăng trưởng rất mạnh mẽ, đứng đầu là những lĩnh vực như dệt may, da giày và thiết bị điện tử. Các hãng công nghệ hàng đầu thế giới như Samsung và Intel đã đầu tư rất lớn vào Việt Nam để thành lập các cơ sở sản xuất và lắp ráp tại cả miền Nam và miền Bắc. Từ năm 1990 đến 2014, tổng vốn đầu tư nước ngoài giải ngân mỗi năm tăng từ 180 triệu USD lên tới 12,4 tỷ USD. Đến cuối năm 2015, Việt Nam có 1 cán cân thương mại tương đối vững chắc với hơn 20 tỷ USD dự trữ ngoại tệ và thặng dư cán cân vãng lai hơn 9,1 tỷ USD.

Bên cạnh sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, sức mạnh nội tại của nền kinh tế Việt Nam cũng tăng trưởng tốt. Tiêu dùng cá nhân tăng trưởng chỉ thấp hơn tăng trưởng GDP một chút, thể hiện sự giàu lên tương đối nhanh chóng của người dân.  Lạm phát (tính theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI)) biến động mạnh trong thời gian này, lên tới 23% vào năm 2008, tuy nhiên đã giảm mạnh và chỉ còn khoảng 3-4% trong thời gian gần đây. Trong giai đoạn 2007-2008, hiện tượng bong bóng diễn ra trên thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán non trẻ. Tăng trưởng GDP thực trong năm 2015 là 6,7% cho cả năm, được góp phần bởi sự tăng trưởng mạnh mẽ lên đêns 7,1% cho quý 4. Lạm phát ở mức thấp 0,6%, không chỉ nhờ vào kết quả của giá dầu thấp trên thị trường toàn cầu, mà cũng nhờ giá cả ổn định của thực phẩm và các hàng hóa tiêu dùng nội địa khác.

Tiến tới năm 2016, chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng 6,7% cho cả năm, bất chấp sự suy giảm của các hoạt động kinh tế toàn cầu, nhờ sự tăng trưởng mạnh mẽ từ trong nước. Nhiều nhà phấn tích cũng cho rằng lạm phát sẽ gia tăng vào nửa cuối năm. Tron trung hạn, các yếu tố tích cực như sự gia tăng năng lực cạnh tranh của lực lượng lao động (chi phí thấp và được đào tạo tương đối tốt nếu so sánh với các quốc gia xung quanh như Trung Quốc), đó là chưa kể đến các yếu tố tích cực  từ Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tuy nhiên, các thách thức vẫn còn, đặc biệt là khi lĩnh vực ngân hàng vẫn còn yếu và các doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng vai trò quá lớn trong nền kinh tế.

Kinh doanh & Tài chính

Cả hai lĩnh vực kinh doanh (sản xuất và dịch vụ) và tài chính (ngân hàng và chứng khoán) tại Việt Nam đều tăng trưởng rất nhanh, và được thúc đẩy bởi sự phát triển của các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân cũng như các tổ chức tài chính. Ở cấp độ vĩ mô, quá trình cổ phần hóa đang diễn ra với một cách tích cực. Tuy nhiên khi nhìn vào chi tiết, quá trình này bị ảnh hưởng bởi tương đối nhiều yếu tố và khá phức tạp.

Lĩnh vực kinh doanh bao gồm 3 mảng chính: doanh nghiệp nhà nước (SOEs), các công ty đại chúng và các công ty tư nhân quy mô nhỏ và vừa (SMEs). Trong vài năm nay, chính phủ đã tuyên bố chính sách giảm thiểu vai trò quá lớn của các SOEs và đặt mục tiêu hàng năm cho việc đưa các công ty này lên sàn chứng khoán. Dù kết quả vẫn chưa đạt được như kỳ vọng, quá trình này trong 10 năm nay đã giúp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tư nhân. Về mặt GDP, SOEs đóng góp 35%, kinh tế tư nhân đóng góp 50% và 15% được đóng góp bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài, một lĩnh vực đang tăng trưởng rất nhanh. Khả năng tiếp cận tín dụng là tương đối khác biệt giữa các lĩnh vực khi lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ nguồn vốn không tương xứng với lĩnh vực tư nhân. Lý do một phần là do lĩnh vực ngân hàng vẫn chưa đủ mạnh và chủ yếu dựa vào tài chính dựa trên thế chấp chứ không phải tài chính dựa trên dòng tiền. Đối với các công ty dựa vào thương mại đang tăng trưởng rất nhanh, thử thách lớn là để chuẩn bị đủ vốn để hỗ trợ vòng xoay tài chính dài hơn của doanh thu xuất khẩu. Đối với các công ty nước ngoài, việc này dễ dàng hơn khi họ có nguồn vốn nội tại hoặc có khả năng gọi vốn từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng bên ngoài Việt Nam.

Lĩnh vực tài chính vẫn gặp phải nhiều thách thức lướn, đặc biệt là chất lượng của tài sản. Nhiều nhà phân tích cho rằng số lượng nợ xấu cao hơn nhiều con số được công bố. Chính phủ đã nhận ra vai trò quan trọng của một hệ thống ngân hàng ổn định và đã có các nỗ lực để cải thiện tình hình như thành lập một tổ chức để hấp thu nợ xấu. Lĩnh vực chứng khoán vẫn tương đối nhỏ bé khi tổng giá trị vốn hóa thị trường chỉ tương đương 21%, thấp hơn rất nhiều so với các thị trường mới nối xung quanh như Malaysia (156%), Philippines (106%) và Thái Lan (105%). Trong cùng lúc đó,lĩnh vực tài chính có nhiều cơ hội đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính thương mại. 

Chính trị

Hệ thống chính trị của Việt Nam dựa trên hệ thống Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa do một Đảng lãnh đạo, trong đó Chủ tịch nước đứng đầu quốc gia và Thủ tướng đứng đầu Chính phủ trong hệ thống do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền Hành pháp được thực thi bởi Chính phủ và Chủ tịch nước. Quyền Lập pháp nằm trong tay Quốc hội. Hệ thống Tư pháp độc lập với hệ thống Hành pháp. Quốc hội thông qua Hiến pháp. Bản thứ tư của Hiến Pháp được thông qua vào ngày 15/4/1992 và đã được chỉnh sửa một lần kể từ đó.

Theo Hiến pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng lãnh đạo của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tính chính danh của Đảng được nêu rõ tại Điều 4 của Hiến pháp "Đảng Cộng sản Việt Nam [...] là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội".

Mỗi 5 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội Đảng. Đại hội Đảng gần nhất được tổ chức vào tháng 1, 2016. Những người tham dự bao gồm toàn bộ các Ủy viên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các đại diện từ địa phương. Các chức năng quan trọng của Đại hội Đảng bao gồm:

  • Đánh giá kết quả hoạt động của nhiệm kỳ trước.
  • Đưa ra định hướng và chính sách cho Đảng cho nhiệm kỳ 5 năm tới
  • Bầu Ban Chấp hành Trung ương mới
  • Đưa ra các bổ sung và chỉnh sửa cho Luận cương Chính trị và Điều lệ Đảng nếu cần thiết.

Sau khi các quyết định được thống nhất, Đại hội sẽ được giải tán và Ban Chấp hành Trung ương mới sẽ thực thi các quyết định của Đại hội Đảng trong nhiệm kỳ 5 năm mới.

Ban Chấp hành Trung ương mới là cơ quan quan trọng của Đảng. Ban Chấp hành hiện tại có 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết. Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương thường bao gồm lãnh đạo cao cấp ở cả Trung ương và địa phương, bao gồm các nhân vật quan trọng như Chủ tịch Nước, Thủ Tướng, Chủ tịch Quốc hội, chức vụ phó của các vị trí trên, Bộ trưởng và nhiều lãnh đạo các cơ quan ngang Bộ, Thứ trưởng các Bộ quan trọng như Bộ Công An và Bộ Quốc Phòng, Bí thư Tỉnh ủy các tỉnh và lãnh đạo các cơ quan quan trọng của Đảng và Nhà nước.

Ban Chấp hành Trung ương sẽ thực thi các quyết sách được Đại hội Đảng đưa ra liên quan đến các vấn đề quan trọng của đất nước, bao gồm cả lĩnh vực đối nội và đối ngoại.

Ban Chấp hành Trung ương sẽ bầu Tổng Bí thư, Bộ Chính trị và Ban Bí thư.

Ban Chấp hành Trung ương cũng đề cử ứng viên cho các vị trí chủ chốt, bao gồm Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Nước và Thủ tướng. Những vị trí này sau đó sẽ được thông qua Quốc hội trước khi chính thức nhậm chức.

Chủ tịch nước được bầu bởi Quốc hội cho mỗi nhiệm kỳ 5 năm và đóng vai trò Tổng chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh. Chính phủ, đơn vị hành pháp chủ yếu của Việt Nam được đứng đầu bởi Thủ tướng, và được hỗ trợ bởi một số Phó Thủ tướng và Bộ trưởng phụ trách nhiều vấn đề khác nhau. Đơn vị Hành pháp phụ trách thực thi các chính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và ngoại giao của quốc gia. Quốc hội là cơ quan Lập pháp của Việt Nam. Quốc hội có 500 thành viên, được bầu với nhiệm kỳ 4 năm. Theo Hiến pháp của Việt Nam, Lập pháp là cơ quan cao nhất của quốc gia. Quốc hội có quyền thực thi và sửa đổi Hiến pháp cũng như luật pháp; thông qua Ngân sách Nhà nước; giám sát Chính phủ và các cơ quan quyền lực khác; chỉ định nhân sự Tư pháp. Hiến pháp Việt Nam và hệ thống Lập pháp tạo ra nền tảng cho việc bầu cử các chức danh thuộc Văn phòng Chủ tịch nước, Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp.

Việt Nam có hệ thống Tư pháp độc lập, tuân thủ theo Hiến pháp của Việt Nam và cơ quan Lập pháp là Quốc hội. Tòa án Nhân dân Tối cao là tòa án cao nhất tại Việt Nam. Ngoài ra, có một số tòa án đặc biệt khác như Toà án Quân sự Trung ương, Tòa án Hình sự, Tòa án Dân sự và Tòa án Phúc thẩm. Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước cũng như việc thực thi pháp luật của mọi công dân Việt Nam.